ĐỌC LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM (bài 8 - tiếp theo)

23/12/2025

ĐỌC LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM (bài 8 - tiếp theo)

Duyên khởi nghĩa là có "nhân", nhưng cũng phải gặp "duyên" thì mới "khởi". Một khi không "khởi" thì thôi, cứ tịch lặng trong vô lượng kiếp, tịch lặng mãi mà "nhân" không bao giờ mất, A Tỳ Đàm gọi thứ "nhân" này là "bất thất pháp". Hễ gặp "duyên" thì "trùng trùng duyên khởi". Các vị có cái "nhân" (hay căn tính) Đại thừa như Mâu Tử, Khương Tăng Hội... thì như vậy. Còn dân Việt thời cổ đại ấy thì sao? Chúng phàm phu đã tiếp thu Phật Giáo như thế nào? Từ chương 8 đến chương 10, Ngài Lê Mạnh Thát đã "phát lộ" cho chúng ta thấy điều này, đồng thời bác bỏ một cách mạnh mẽ những quan điểm, cho rằng Phật Giáo là truyền từ Trung Hoa sang Giao Chỉ.

Chương 8, tác giả Lê Mạnh Thát bắt đầu mô tả cuộc khủng hoảng đức tin vào Giáo pháp trong sinh hoạt trí thức, văn hóa, và tiến hóa tâm linh của người Việt cổ, từ việc phân tích 6 lá thư, mà Ngài gọi là "những áng văn xưa nhất, trong Lịch sử văn học Phật Giáo nước ta". Quả là những áng văn hay, mà chưa một bộ Văn học sử nào của nước ta đề cập tới, nó chỉ xuất hiện trong "Hoằng Minh tập" của Sư Đạo Tuyên từ thời nhà Đường, cách nay gần 1400 năm. Cho nên những ai đọc sáu lá thư này đều là đọc lần đầu tiên. Sáu lá thư viết cách đây gần hai nghìn năm, mà văn phong có chỗ cổ kính và biền ngẫu như văn bạch thoại của Kim Thánh Thán, có chỗ hiện đại và bác học như văn phê bình của Lỗ Tấn, thì GS Lê Mạnh Thát gọi những "áng văn" là đúng lắm.

Một phật tử chưa tin vào Phật tính, thì khủng hoảng trong nhận thức Giáo pháp là chuyện bình thường, huống hồ còn pha trộn giữa tín ngưỡng nguyên thủy và quyền năng Phật pháp... đó là việc của cả ba đời, quá khứ, hiện tại và vị lai, chứ không phải chỉ riêng thời đại ấy. Sáu lá thư là cuộc vấn đáp giữa Đời và

Đạo, là những nạn vấn nằm trong chính Thánh Giáo, luôn tìm thấy trong Thánh Giáo, và Đức Phật bao giờ cũng trả lời bắt đầu bằng hai tiếng: "Lành thay! Lành thay!...", và Ngài thường tán thán người đặt câu hỏi, chứ hiếm khi thấy Ngài quở... Nội dung sáu lá thư kia cũng mang những âm hưởng giống hệt như vậy. Nghĩa là thời nạn vấn ấy hiện lên trong lịch sử PGVN, như hiện thực của kinh Phật, và chính là kinh Phật. Phần lớn Kinh tạng trong nhà Phật, cũng đều là những cuộc vấn đáp giữa Đời và Đạo. Cho nên nói bộ sách này là Kinh Sử là vì như vậy.

Ngay lá thư đầu tiên là sự khao khát thấy chân hình của Phật. Không thấy Phật thị hiện thì phải chăng giáo pháp chỉ là lời nói suông, không thật? Và nghi ngờ về nguồn gốc của giáo pháp nhiệm màu. Nghĩa là nghi ngờ có sự "ngụy tạo" kinh sách của Đức Phật đã xuất hiện ngay từ những thời đó, đến bây giờ vẫn còn khá phổ biến, ở ngay trong nhà Phật, ngay trong những người khoác áo cà sa, suốt ngày tụng niệm, và thuyết pháp trước đám đông đệ tử ruột đáng thương. Tôi phải gọi đây là những con vẹt mặc trộm cà sa, vì có tu mà vô tri, có tâm mà vô giác, có tin mà đức tin bệnh hoạn... Trái ngược với những "tu sĩ" ấy, Thiền sư Lê Mạnh Thát là một tấm gương sáng chói trong việc tiếp thu tam tạng kinh điển. Ở cả hai tư cách "Học giả" và "Hành giả", Ngài cũng không bác bỏ tình trạng "ngụy tạo" trong hệ thống giáo pháp của Phật Đà, thậm chí còn kiên quyết chỉ ra sự "ngụy tạo" của PG Trung Hoa trong tạng Luật, cả luật Thanh văn lẫn luật Bồ Tát. Nhưng tạng Kinh thì Ngài có cách nhìn khác, hoàn toàn không cố chấp như mấy vị PG nguyên thủy, mà "huệ mạng" mãi không chịu lớn kia. Dù không phải từ kim khẩu của Đức Thích tôn, nhưng vẫn giúp khai mở được Giải thoát tri kiến... thì chỉ có thể do bậc các Đẳng Giác Phật nói ra, thì đó vẫn là giáo pháp của Phật Đà. Nghĩa là không thể xếp vào "ngụy tạo".

Trước khi đọc Ngài Lê Mạnh Thát, tôi cũng đã từng trăn trở nhiều về hai chữ "ngụy tạo", đặc biệt khi tiếp xúc với kinh điển Đại thừa. Ví dụ lúc đọc bộ kinh "Niệm Phật Ba la mật". Tại sao trước nay chỉ nói có "Tịnh Độ ba kinh" (Kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ), mà không có kinh này? Nghĩa là kinh này ra đời sau khi có "Tịnh Độ ba kinh". Và có thể dễ dàng nhận ra đây là một bộ luận về "niệm Phật Ba la mật", do đời sau viết ra, chứ không phải một bộ kinh từ kim khẩu của Đức Thích Tôn nói ra. Nhưng nếu là luận, thì đây là một bộ luận vĩ đại và mẫu mực, là pháp môn tối thắng và bất khả tư nghị, khế hợp với mọi căn cơ dành cho thời mạt pháp. Nếu không phải là một bậc có trí tuệ "Đẳng Giác Phật", tức ngang với Phật, thì không thể viết nổi một bộ "luận" như thế này. Cho nên, nếu chúng ta tin rằng đấy là một bộ kinh thì cũng chẳng sao, thọ trì theo cũng vô lượng công đức... Tại sao nhận định giống bộ luận hơn là bộ kinh? vì kinh Phật chất cao như núi, từ bất liễu nghĩa, liễu nghĩa đến đệ nhất nghĩa đế... Dù các bộ kinh đều hướng về Nhất thừa tức Phật thừa, thì cũng đều độc lập, không bộ kinh nào nhắc đến bộ kinh nào. Kinh "Niệm Phật Ba la mật" có nhắc đến kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh Kim Cang, kinh Lăng Già... là điều quái lạ, điều mà các đại luận sư đời sau hay làm, chứ kinh Phật thuyết thì không có chuyện ấy. Nhưng cũng chẳng sao...

(Còn tiếp)

Phạm Lưu Vũ

Bình luận (0)

Viết bình luận :