Mô tả
Sáng 9-2, tại khách sạn Continental Sài Gòn diễn ra buổi trò chuyện với nhà nghiên cứu Nhật Chiêu về hai tác phẩm Khóa hư lục của vua Trần Thái Tông và Cư trần lạc đạo phú của vua Trần Nhân Tông.
Chương trình giao lưu tập trung vào sự triển khai độc đáo các triết lý Phật giáo trong bối cảnh văn hóa, chính trị, xã hội của triều đại nhà Trần những năm đầu thế kỷ 13. Trong đó, Khóa hư lục và Cư trần lạc đạo phú ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền văn học, triết học và Phật giáo đương đại.
Trần Nhân Tông, đời – đạo không hai
Qua nghiên cứu của ông Nhật Chiêu, từ khi còn nhỏ, Phật hoàng Trần Nhân Tông thường được tiếp xúc, trò chuyện với ông nội là thiền sư Trần Thái Tông, tác giả của Khóa hư lục, một tác phẩm triết học – Phật học kinh điển của Việt Nam.
Ngài cũng có vua cha là Trần Thánh Tông, cũng là một vị thiền sư chuyên tâm nghiên cứu đạo Phật. Vì vậy, không có gì lạ khi từ nhỏ, vua Trần Nhân Tông đã quan tâm đến con đường tâm linh.
Gần 10 năm cuối đời, ngài đã xuất gia để làm Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy tư tưởng “Cư trần lạc đạo”, “Hòa quang đồng trần” làm hệ tư tưởng của Phật giáo Việt Nam.
Ông Nhật Chiêu chia sẻ: “Có thể nói, vua Trần Nhân Tông đã đi theo trường phái tu tập cân bằng giữa đạo và đời. Ngài nhấn mạnh việc rõ biết tâm, đạo ngay trong đời sống, không cần rời bỏ đời sống thế tục mà vẫn có thể hòa hợp với đạo, bản thể của mình và thế giới”.
Và tư tưởng này đã ảnh hưởng bởi triết lý tu tập từ thời vua Trần Thái Tông qua tác phẩm Khóa hư lục gồm các bài phổ thuyết, phương cách đi đến giác ngộ…
Theo ông Nhật Chiêu, Khóa hư lục hoàn toàn xứng đáng là một tác phẩm lớn, mở đầu cho văn chương Việt Nam.
Trong sách Trần Nhân Tông, đời – đạo không hai, tác giả Nguyễn Thế Đăng nhận định vua Trần Nhân Tông đã thực hiện xuất sắc cả hai bổn phận: là một vị vua và một thiền sư.
“Điều quan trọng là không phải ngài sống hai giai đoạn đời và đạo tách biệt nhau. Cho đến khi đã xuất gia vào năm 1298, theo Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm 1301, Thượng hoàng vân du các nơi, sang Chiêm Thành”.
Chỉ một việc sang Chiêm Thành thôi, ngài đã là người có công trong việc mở nước về phương Nam, bằng biện pháp hòa bình. Xuất gia mà vẫn làm công việc ngoại giao, văn hóa của một Thượng hoàng, cho thấy đạo và đời luôn luôn gắn bó với nhau như vậy” – sư Thế Đăng viết.
Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm
Ngoài việc nói về triết lý tu tập cân bằng đạo – đời, sống phụng sự, từ phụng sự phát triển bản thân, trong Cư trần lạc đạo phú, một tác phẩm viết hoàn toàn bằng tiếng Nôm, Trần Nhân Tông cũng thể hiện sự an trụ trong tánh giác (việc giác ngộ sẵn có nơi mình).







Xin để lại nhận xét/giới thiệu cho người đọc sau
Chưa có đánh giá nào.