Mới tái bản - A-tì-đạt-ma Câu-xá (Tập I: thiên Phân biệt Giới, Phân biệt Căn) - Tuệ Sỹ - in lần 4 (Định bản)

Tags: Luận 

Giá

:

280.000₫

Mô tả :
Dịch và chú: Tuệ Sỹ
Phát hành: Hương Tích
NXB: Hồng Đức
Tái bản T1.2026

 
Sách in lần thứ 4, là Định bản đã được Dịch sư cho nhập vào Đại tạng kinh Việt Nam (ấn hành tại hải ngoại 2022). Sách có thêm phần biên khảo giới thiệu hệ thống A-tì-đạt-ma câu-xá và phụ lục Từ vựng Câu-xá Phạn Tạng Hán của người dịch.
 
Giới thiệu A-tì-đạt-ma Câu xá

...

Nhu cầu hiểu biết, tìm hiểu mọi thứ hiện hữu quanh ta, không chỉ đơn giản là sự tò mò theo bản chất, mà chính những hiểu biết là công cụ bảo vệ sự sống. Từ những cái được thấy, được nghe, rồi suy diễn ra những thứ ẩn tàng không thể thấy, không thể nghe, để rồi phát sanh hy vọng, hay sợ hãi, là bản chất và hiệu quả của hoạt động tư duy.

Ấy là nhu cầu bức thiết thường nhật. Để giải quyết, nếu bằng vào biện pháp thực tiễn nhất, không thể không đặt vấn đề ưu tiên. Cần giải quyết biến cố nào trước. Như người trúng phải tên độc; vấn đề giải độc và thông tin về nơi phát xuất mũi tên, cả hai đều cần thiết. Không giải hết độc tố thì có thể không tồn tại, nhưng nếu không cần biết đến nguồn gốc phát xuất thì có thể sẽ không tránh khỏi bị trúng độc lần nữa. Tuy nhiên, không thể không đặt vấn đề ưu tiên để giải quyết. Cho nên, khi tỳ-kheo Sunakkhatta yêu cầu Phật giải thích về khởi nguyên của thế giới (aggaññaṃ paññapeti), với sự thách thức: “Thế Tôn, nay con khước từ Thế Tôn... vì Thế Tôn không thuyết minh về khởi nguyên của thế giới”.[1] Đức Phật dứt khoát từ chối không giải đáp. Thế nhưng, trong dịp khác, khi hai thanh niên bà-la-môn bị gia đình, dòng họ chỉ trích, nguyền rủa, vì đã từ bỏ giai cấp ưu đãi của mình để sống với đám sa-môn Thích tử phi giai cấp; khi ấy Đức Phật kể ngay câu chuyện khởi nguyên của thế giới này.[2]

Hoặc khi Man Đồng tử (Māluṅkya) nêu vấn đề thế giới này có biên giới tận cùng hay không có, vĩnh hằng hay không vĩnh hằng, Đức Phật từ chối trả lời và đưa ra thí dụ về người trúng tên độc.[3] Nhưng khi các tỳ-kheo cùng tụ hội thảo luận để tìm hiểu nguyên nhân sâu xa về những sự tán dương hay hủy báng của người đời đối với Đức Phật, bấy giờ Đức Phật lại diễn giải nguồn gốc của khái niệm về thế giới vĩnh hằng hay không vĩnh hằng, hữu biên hay vô biên; chỉ rõ nguồn gốc và giới hạn của những kiến thức ấy, bắt nguồn từ kinh nghiệm tôn giáo, hay bằng năng lực tư duy phân tích, và định hướng mà những kinh nghiệm và tư duy như vậy sẽ dẫn đến.[4]

Ở những nơi khác, như trong Tương ưng bộ, hay Tạp A-hàm, các tỳ-kheo hỏi Phật, do nhân duyên gì mà trời mưa, trời nóng, trời sấm... [5] Những câu hỏi này có vẻ không liên hệ gì đến giải thoát, và những câu trả lời được gán cho Phật cũng vậy, mang tính chất thần thoại hơn là bằng vào sự quan sát thực tiễn.

Những câu hỏi này xét ra còn phù phiếm hơn các câu hỏi của tỳ-kheo Maluṇkya hay Sunakkhatta. Trừ phi các kinh này được giải thích là nương theo tập tục hiểu biết nhân gian mà Đức Phật phương tiện hướng dẫn thực hành để đi lần đến giác ngộ. Nếu không vậy, các kinh này được biên soạn nhằm đáp ứng một số nhu cầu hiểu biết các hiện tượng thường nhật, thỏa mãn tính hiếu kỳ hay bản chất muốn biết của con người.

Vậy thì, A-tì-đạt-ma nhận định trong ý nghĩa triết học, là sự phát triển của nhu cầu hiểu biết, từ những câu hỏi đơn giản như định danh và định nghĩa về một sự vật xuất hiện trước ta hay trong ta, sự vật ấy quan hệ với ta như thế nào trong ý nghĩa sanh tồn, đau khổ hay hạnh phúc. Từ những tồn tại và quan hệ cục bộ, tiến dần lên những mối quan hệ phức tạp: Bản thể của thế giới là gì? Tồn tại này là thực hay giả? Ta là ai hay là cái gì?

Tất cả những câu hỏi này đều có thể tìm thấy giải đáp trong kinh Phật. Những điều Phật dạy, hoặc do hạn chế bởi thời đại và ngôn ngữ, hoặc do bởi pháp tính sâu xa, sự lãnh hội không thể dễ dàng, và lại càng không dễ dàng trong sự trao truyền từ thầy đến đệ tử. Do đó, cần có một hệ thống giáo nghĩa nhất quán, trong đó các chi tiết giáo nghĩa quan hệ với nhau một cách mạch lạc. Như vậy, ý nghĩa triết học của A-tì-đạt-ma là ý nghĩa hệ thống. Triết học được hiểu ở đây là hệ thống tư tưởng nhất quán, bao gồm tất cả những gì mà tư duy đặt thành nghi vấn và yêu cầu giải đáp, bao gồm các vấn đề về vũ trụ và nhân sinh...

[trích "Giới thiệu A-tì-đạt-ma câu-xá", Tuệ Sỹ]

------------

[1] Pāṭhikasuttam, D. iii. 4: paccakkhāmi dānāhaṃ, bhante, bhagavantaṃ ... na hi pana me, bhante, bhagavā aggaññaṃ paññapetī’ti. Trường 11, A-nậu-di kinh, T1 tr. 66b12.

[2] Aggaññasuttam, D.iii.85. Trường 6, Tiểu duyên kinh, T1 tr. 37b28.

[3] Cūḷa-Māluṅkyasuttam, M.i.428. Trung 60, Tiễn dụ kinh, T1 tr. 804a25.

[4] Brahmajalasuttam, D.i.12. Trường 14, Phạm võng kinh, T1 tr. 89c20.

[5] S.32 Valāhakasaṃyutta (PTS.ii.255ff). Tạp 31, T2 tr. 220b9 tt.

-----------

Mục lục
Phần I: TỔNG LUẬN A-TÌ-ĐẠT-MA

Phần II: NỘI DUNG


Phân biệt giới

Phân biệt căn

Phàm lệ

Phần tựa:

I- Quy kỉnh

II- Định nghĩa A-tì-đạt-ma

III- Ý hướng A-tì-đạt-ma

Chương I: TỔNG LUẬN PHÁP

I- Bản thể của Pháp

II- Pháp thường nghiệm

III- Phân tích uẩn

Chương 2: THIẾT LẬP BA KHOA

I- Thống nhất uẩn xứ giới

II- Tổng luận ba khoa

Chương 3: CÁC ĐẶC TÍNH SAI BIỆT CỦA PHÁP

Thiên 2: PHÂN BIỆT CĂN

Chương 1: Hai mươi hai căn

I- Căn nghĩa là gì?

II- Ý nghĩa lập căn

III- Chức năng của căn

IV- Đặc tính của căn

V- Các vấn đề

Chương 2: Các pháp câu sinh

I- Sắc pháp câu sinh

II- Tâm pháp câu sinh

Chương 3: Tâm bất tương ưng hành

I- Tổng tiêu

II- Tự thể các bất tương ưng hành

III- Thuộc tính các hành không tương ưng

Chương 4: Nhân duyên quả

I- Sáu thân

II- Năm quả

III- Bốn duyên

Phụ lục I

Phụ lục II

Sách dẫn

Ngữ vựng Phạn-Tạng-Hán
 

Một số đoạn trích

Nếu không do sự giản trạch pháp (dharmapravicaya) thì không có phương tiện ưu việt nào để dứt sạch các phiền não. Chính do phiền não mà thế gian lang thang trong biển hữu này. Do bởi nguyên nhân này, với mục đích là tư trạch pháp, mà, theo truyền thuyết (kila), đức Đạo Sư, tức là Phật, đã giảng nói Abhidharma. Thật vậy, nếu Abhidharma không được giảng dạy thì các đệ tử không có khả năng tư duy giản trạch các pháp. Nhưng Đức Thế Tôn nói Abhidharma một cách rải rác; rồi Đại đức Kātyāyanīputra cùng các vị khác tập hợp lại và ổn định. Cũng như Đại đức Dharmatrāta tập hợp các bài kệ tụng lại làm thành phẩm «Udānavagga.» Các nhà Vaibhāṣika nói như vậy.