Phát hành kinh sách | Phòng đọc | Không gian trà – đọc sách miễn phí Hotline 0902 800 433 · Giao toàn quốc

Nhớ Bùi Giáng – Thích Trung Đạo

Tưởng nhớ 28 năm – ngày Thi Sĩ Bùi Giáng – Đi vào Mùa Thu Miên Viễn (07.10.1998 – 07.10.2026)

THÍCH TRUNG ĐẠO

BÙI GIÁNG,

Kẻ chăn trâu

Một con én lạc về

Đậu bên khung cửa tre

Cất tiếng kêu lạc giọng

Mưa và gió ngoài kia.

Tôi một mình – cô độc, đã mấy canh liền ngồi nhìn mưa qua khung cửa thấp. Phía bên kia là con đường đất lầy lội vắng người – Đài báo bão, chỉ còn những con bò có bổn phận đi kiếm ăn giữa lúc mưa bão như thế này, và theo đó một con người, áo mưa trùm kín, tay ve vẩy ngọn roi, chân nha nhẩn theo sau…

Khi lùa bò lên đồi sim trái chín, Bùi Giáng thổi sáo vi vu hay thả tung cánh diều tuổi thơ dưới nắng vàng rực rỡ, hoặc cũng lầm lũi trong mưa như những mục đồng nào trên đất đồng đất rẫy của non nước ngàn năm. Và – ngàn xưa cho đến ngàn sau, tình yêu của người chăn bò, chăn dê đối với chúng duy chỉ một Bùi Giáng là da diết mặn nồng.

Tình đó vượt lên trên tình yêu của đôi lứa yêu nhau bởi cảm xúc mị kỳ khi trao nhẫn cưới trong giáo đường hay trước bàn thờ tiên tổ với ánh mắt nồng cháy bằng tất cả lửa ấm trong tim, để lời thề nguyền thốt ra đâu đó giữa nhân gian cũng chỉ hình thành bởi những điều kiện có và đủ… Lễ cưới của Bùi Giáng với bầy dê không có điều kiện trước sau.

Giữa đồi sim trái chín, dù nắng vàng hay mưa bạc, cây trụi đá trơ hay gai cỏ ụ đồi đều là những lễ khí giáo đường để Bùi Giáng trao gởi tình yêu… với những em Dê ngu ngơ đồng nội.

“Ngẩng đầu lên nhìn anh mờ mắt lệ

Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi

Trao người em trăm năm lời ước thệ

Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi.

Vòng em xong, vòng anh dành riêng chiếc

Dành riêng mình – dê hỡi hiểu vì sao?

Vì lòng anh luống âm thầm tha thiết

Gán đời mình trọn kiếp với dê Sao…”

Chiếc vòng dây trên cổ bò, cổ dê đâu đó chỉ là một trò chơi của trẻ nhỏ chăn trâu. Bùi Giáng đã thơ mộng nó qua cả ngàn lần cái nhìn thơ mộng của ai đó khi ghé mắt xuống cuộc chơi trên đồng cạn, dưới đồng sâu để có thể thốt lên rằng: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ…”. Để đạt đến nguyên phong mộng triệu đó Bùi Giáng yêu tha thiết, thắm thiết đắm đuối đắm chìm nhan sắc của tất cả nhan sắc bầy dê nha nhẩn giữa đất trời trung du có cỏ xanh hoa tím. Như một người con gái được nhìn nhận qua bốn cung bậc Công Dung Ngôn Hạnh, Bùi Giáng nhìn nhận sự quyến rũ trùng trùng của những con dê từ giọng nói be be thỏa thích đến những đôi chân cao nhảy cẫng tự do cho đến đôi mắt mơ huyền mộng ước và cả màu áo rực rỡ vàng xanh tím đốm, cộng thêm ráng đỏ chiều tà hay mưa nguồn chớp bể để dẫn đến một tình yêu toàn vẹn, duy nhất:

“Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

Và thứ nhì cũng đệ nhất như nhiên”.

Tình yêu duy nhất đã trao rồi, tình yêu thứ hai, thứ ba và thứ ngàn ngàn cũng trên đỉnh tuyệt vời duy nhất:

“Ta đã hái nhành hoa kia của đá

Và đã trao cho nham thạch phiêu bồng”.

Tình yêu đó bất biến, chẳng phôi pha, như keo sơn gắn kết để dìu nhau qua những gai góc, mưa gió đời thường. Anh là người chung thủy, cực kỳ thủy chung.

“Những bận nào Trà Linh qua Đá Dừng, Hòn Dựng

Dùi Chiêng về Phường Rạnh ngược Khe Rinh

Bao lần anh cùng chúng em lận đận

Bôn ba băng rú rậm luống rùng mình.

Những bận nào Quế Sơn rù rì con suối ngược

Nước trôi nguồn nước lũ cuốn phăng phăng

Những bận nào mịt mùng mưa gió ướt

Đẫm thân mình co rúm lạnh như băng”.

Tình yêu đó bình đẳng vô cùng và tràn dâng tấm lòng trân trọng:

“Và giờ đây một lời thề đã thốt

Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta

Cao lời ca bê hê em cùng thốt

Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha”.

Những câu thơ như thế làm sao có thể viết bằng giấy trắng mực đen? Những câu thơ như thế chỉ có thể viết bằng nhịp tim rưng rức yêu thương nhảy múa giữa trời xanh mây trắng.

Mười lăm năm làm mục tử – một cuộc duyên tình bền bỉ nghìn sau và chỉ với tình yêu đó mới đủ sức đẩy đưa ông đến tuổi cổ lai hy. Không có tình yêu đó ông đã chết lâu lắm rồi, không có tình yêu đó tôi và anh chẳng ai nhớ biết về ông!

***

“Tôi là thằng chăn trâu, tôi ăn nói theo ngôn ngữ chăn trâu. Kẻ nào muốn đối thoại với tôi, kẻ đó phải học tập làm chăn trâu trước đã”…

Chẳng biết tôi như thế này có phải đang đối thoại cùng anh không nhỉ?

Tôi quý kính anh nên tôi muốn đối thoại và tôi đang học tập chăn trâu để sử dụng ngôn ngữ kẻ chăn trâu… 

Anh Giáng ơi! Giữa phố phường hoa lệ “Việt Nam chỉ có Sài Gòn là vui!” thì kiếm một con trâu làm mẫu còn khó, huống là tìm một đồng cỏ xanh để trâu ăn. Có chăng, con trâu đó là con trâu đen trong tâm thức của tôi và của mọi người. Những người không chăn trâu mà sính dùng ngôn ngữ kẻ chăn trâu, đương nhiên là lếu láo, vì có trúng trật gì cho cam! Và anh cũng từng nói “Với những con trâu ngố ngáo phải dùng roi để lùa, để bảo, con trâu đã thuần rồi thì mình chỉ còn đi theo bước nó đi”. Ở đây hình ảnh của thập mục ngưu đồ hiển hiện.

Con trâu của anh có thể lam nham hay tinh tuyền sắc trắng, đó là cảnh giới của anh, tôi ngù ngờ không chắc biết, hoặc anh đã thả con trâu thuần rong ruổi để ngồi quên như cuội thơ ngây dưới cây đa ân sủng che chở nắng mưa hay một bước tiêu tao thõng tay vào chợ để nếm mùi tanh tưởi cá tôm mà cảm thông tha thiết những người mẹ hiền một đời gắn liền với rổ tôm mớ cá để có cho chồng con chén cơm trắng, bát canh thơm…

Cho là gì gì đi nữa, tôi vẫn chắc rằng anh là gã mục đồng đích thực, cả một đời đau đáu yêu thương cây cỏ trần gian nên luôn giữ con trâu của anh không cho nó tình cờ, ngẫu nhiên vụng trộm xâm phạm lúa mạ của người, rồi thi thoảng hát ca vang lừng giữa đông vàng xuân tím. Thi thoảng thôi, nhưng tiếng hát của anh đã vang vọng trùng trùng bây giờ và cho đến ngàn sau.

Giang Điền 1/11/1998

THÍCH TRUNG ĐẠO. 

Đăng lại bài Tuỳ Bút này của Người Bạn – Tác giả TTĐ – trong dịp Lễ Đại tường Cố Thi sĩ 12/1998 (Trích từ Tập Văn – Tưởng Nhớ Thi Sĩ Bùi Giáng, nxb Trẻ – 1999)

6