Mô tả
Bộ sách Đại Phật Sử (Maha Buddhavamsa) do Cố Đại Trưởng lão Mingun Sayadaw (ngài Tam Tạng I) biên soạn và Tỳ khưu Minh Huệ biên dịch, trọn bộ gồm 08 tập, trong đó có cả tập 6.B lần đầu tiên được ấn hành tại Việt Nam.
1. Tầm quan trọng của công trình Đại Phật Sử:
Bộ sách này là một tác phẩm cốt yếu giúp tìm hiểu giáo lý Đạo Phật. Bộ sách trình bày một cách toàn diện về Đức Phật lịch sử, từ khi Ngài được thọ ký cho đến lúc nhập Niết-bàn, với nội dung chuẩn xác đúng theo kinh điển Pāḷi.
Tác phẩm được biên soạn theo lời thỉnh mời của Thủ tướng Miến Điện U Nu gửi đến Ngài Mingun Sayadaw (Ngài Tam Tạng 1) vào ngày 8 tháng 1 năm 1955.
“Vào ngày 8 tháng 1 năm 1955, Thủ tướng đến thăm tôi nơi tạm trú tại thiền đường Saṅgha Yeiktha và trân trọng thỉnh cầu như sau:
(1) Xin Ngài hoan hỷ thực hiện công việc biên soạn về những kiếp sống của chư Phật. Trong đó xin Ngài đừng bỏ sót bất cứ chi tiết nhỏ nào. Nếu một cuốn không đủ thì làm hai cuốn. Hai cuốn không đủ thì làm bốn, tám, v.v… Điều quan trọng là công việc phải được hoàn hảo.
(2) Bộ sách cần dễ hiểu và thu hút sự ham thích của tất cả mọi người, cả già lẫn trẻ, ngay những người không phải là Phật tử, những người muốn tìm hiểu về các kiếp sống của chư Phật.
(3) Nếu Ngài biên soạn bộ Buddhavaṁsa bằng tiếng Miến Điện, tôi tin rằng tất cả mọi người, xuất gia cũng như tại gia, đều sẽ rất hoan nghinh.”
– Trích lời giới thiệu của Mingun Sayadaw trong bộ Đại Phật Sử
Hiện nay, bộ sách đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt thành của đông đảo độc giả, bao gồm cả Phật tử Nam Tông và Bắc Tông, thậm chí cả những vị không phải Phật tử.
2. Về tác giả:
Cố Đại Trưởng lão Mingun Sayadaw (Bhadanta Vicittasāra Bhivamsa) là vị Tỳ khưu lừng danh về sự tinh thông kinh điển Pāḷi, là một học giả vĩ đại của Phật giáo Miến Điện. Ngài là người đầu tiên vượt qua kỳ thi Tipiṭakadhara (Người mang trong mình Tam Tạng) – kỳ thi được xem là khó nhất và kéo dài nhất. Đúng như cái tên Tipitakadhara được đặt cho kỳ thi, thí sinh phải tụng nằm lòng hết ba tạng kinh điển. Hơn nữa, thí sinh phải vượt qua kỳ thi viết hết thảy Tam Tạng và Chú Giải.
Ngài đã trải qua suốt bốn năm đằng đẵng để tham dự khóa thi và cuối cùng, năm 1953, Ngài nhận được danh hiệu độc nhất Tipiṭakadhara Dhammabhandāgārika, nghĩa là “Người mang trong mình Tam Tạng Pháp Bảo và Người giữ kho Chánh Pháp.”
Trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ sáu, Ngài đảm nhiệm vai trò của vị Visajaka, là người trả lời những câu hỏi về Giáo Pháp (tương tự như vai trò của Tôn giả Ananda trong lần kết tập kinh điển lần thứ nhất). Người hỏi (Pucchaka) khi ấy là Cố Đại Trưởng lão thiền sư Mahasi Sayadaw, đảm nhiệm vai trò tương tự như Tôn giả Đại Ca Diếp (Maha Kassapa).
Để công nhận trí tuệ to lớn và những phụng sự tận tụy của Ngài đối với chư Tăng, chính phủ Miến Điện đã phong tặng cho Ngài danh hiệu Aggamahā-pandita (Bậc trí tuệ bậc nhất) vào năm 1979 và danh hiệu Abhidhaja Mahāraṭṭhaguru (Thánh kỳ Đại quốc sư) vào năm 1984.
3. Về dịch giả:
Dịch giả của bộ sách là Tỳ khưu Minh Huệ, một dịch giả quen thuộc qua nhiều tác phẩm quan trọng như: Pháp Duyên Khởi, Ngạ Quỷ Sự, A tỳ đàm Yếu Luận, Đại Vương Thống Sử.
Bản dịch của Sư đạt được sự quân bình hiếm có, vừa gần gũi, dễ tiếp cận với số đông độc giả, vừa chính xác và thấm đượm màu sắc Phật học. Chính vì lẽ đó, dịch phẩm của Sư luôn được đông đảo độc giả, từ tu sĩ, cư sĩ thuộc mọi truyền thống, tông phái, mến mộ và háo hức đón đọc.
Bộ Đại Phật Sử là công trình biên dịch tâm đắc nhất của Sư, được tiến hành trong gần 20 năm (2000-2019).
“Khi tiếp nhận bộ sách này xem qua nội dung, tôi cảm thấy hân hoan, sung sướng như người đói gặp món ăn đáng ưa thích và tôi đã ăn nó ròng rã 20 năm đến khi hoàn thành bản dịch cũng không hay.”
-Trích lời tựa của Tỳ khưu Minh Huệ trong Bộ sách Đại Phật Sử
“Tác phẩm này là cần thiết và hữu ích cho tất cả các Phật tử dù theo bất kỳ truyền thống nào, dù là Nam Tông hay Bắc Tông, bởi vì chúng ta đều cần hiểu rõ về Đức Phật cũng như có thể rút ra nhiều bài học quý báu từ cuộc đời và quá trình vun bồi ba-la-mật lâu dài của Ngài.”
4. Phước báu và lợi lạc khi nghiên cứu Bộ Đại Phật Sử:
Bộ sách đem lại phước báu và giá trị to lớn cho tất cả những ai thành tâm nghiên cứu, như ngài Mingun Sayadaw đã chỉ rõ ở phần cuối trong Lời giới thiệu bộ sách:
“Thưa quý thiện hữu, những người đang tầm cầu lợi ích cho chính mình và người khác, bộ sách Mahābuddhavaṁsa này, một bản dịch của Hội Phật Giáo Quốc Gia ra đời để kỷ niệm sự hội họp của hội Kiết tập lần thứ sáu, giống như một mảnh đất màu mỡ cho các hàng Phật tử mộ đạo gieo xuống hạt giống Chánh Pháp. Vì lợi ích cho những người tha thiết với Chánh Pháp, bộ sách này được mô tả một cách sống động về Đức Phật – Người Bạn của chúng sanh trong tam giới, đã thực hành những việc phước thù thắng, vô song kể từ lúc là một vị đạo sĩ tên Sumedha. Do vậy, tất cả quý vị nào có ước nguyện thành tựu bốn Tuệ phân tích, sự Giác ngộ thực sự thì nên học hỏi nơi bộ sách này một cách cẩn trọng bằng con mắt trí tuệ, nên tin tưởng tuyệt đối rằng quý vị sẽ gặt hái những kết quả hạnh phúc và an vui, chấm dứt sầu khổ, được sanh làm người, chư thiên và chứng ngộ Niết bàn giải thoát.”
LỜI TỰA
Kính thưa quý vị thiện hữu tri thức,
Bộ sách Đại Phật Sử này được khởi công phiên dịch như là một món quà quý báu dành cho người tu Phật Việt nam. Đặc biệt bộ sách này mang tinh thần quảng đại dành cho cả hai hệ phái chính tại Việt nam là hệ phái Bắc truyền và hệ phái Nam truyền.
Nhân duyên có bộ sách này đến từ một Phật tử thuần thành Chánh pháp, đó là cô Ngọc Thành hiện tại đang sống tại Canada. Cô là người có trí tuệ tiếp thu Phật pháp nhanh lẹ, niềm tin mạnh mẽ. Cô đã đi học thiền tại xứ Miến điện và đạt được kết quả tốt đẹp về pháp thiên. Trong thời gian tu học và tìm hiểu những tác phẩm quý báu của các vị cao tăng Miến điện, cô đã lưu ý đến tác phẩm nối tiếng này, đó là bộ sách có nhan đề bằng tiếng Anh là: The Great Chronicle Of The Buddhas, do một vị Đại trưởng lão thông thuộc Tam tạng biên soạn, Đại đức Mingun. Trong niềm hoan hỉ và tịnh tín đối với bộ sách này, cô Ngọc Thành đã quyết định thỉnh về Việt nam bộ sách này để tôi phiên dịch ra tiếng Việt.
Khi tiếp nhận bộ sách này xem qua nội dung, tôi cảm thây hân hoan, sung sướng như người đói gặp món ăn đáng ưa thích và tôi đã ăn nó ròng rã 20 năm đến khi hoàn thành bản dịch cũng không hay. Lúc đầu bản dịch bằng chữ viết tay, sau đó cô Ngọc Thành gởi về cho cái laptop, nhưng vì mới làm quen với nó chưa có kinh nghiệm nên dịch được bao nhiêu thì bị virus nuốt sạch hết, công sức hai tháng phiên dịch xem như công toi.
Vì muốn tạo sự an trú trong giáo pháp cho đệ tử mình nên tôi giao bản viết tay cho các đệ tử đánh vào máy tính. Kết quả là lỗi chính tả về tiếng Việt và tiếng Pali rất nhiều. Lần đầu in ra đã có nhiều người tham gia sửa lỗi chính tả. Điều rất cảm động là do sự hoan hỉ với tác phẩm này mà họ đã bỏ một thời gian lâu dài để chính sửa. Số người tham gia chỉnh sửa chính tả cũng khá nhiều như Sư Từ Quảng ( ở Chùa Thiền Quang I, đã chết), Sư Pháp Hành ( chùa Từ Thiện, Túc trưng), Bác sĩ Liên, cô Dung ( pháp danh Cittapali) và một số khác nữa mà tôi không nhớ.
Xin tri ân tất cả quý vị và các mạnh thường quân: Bà Vương thị Tốt ở Canada, nhóm Phật tử chùa Siêu lý Phú định, Cô Đang và các mạnh thường quân khác.
Mong cho tất cả đều được hưởng ba loại hạnh phúc của Nhân loại, Chư thiên và Niết bàn giải thoát.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Khởi công phiên dịch mùa an cư năm 2000
Xin để lại nhận xét/giới thiệu cho người đọc sau
Chưa có đánh giá nào.