TRÒ CHUYỆN TRIẾT HỌC:
HỮU THỂ HỌC XÃ HỘI VÀ VÀI VẤN ĐỀ ĐƯƠNG ĐẠI
Đối với tôi, sự có mặt của ba nhân vật: Bùi Văn Nam Sơn, Trương Trọng Hiếu và Nguyễn Trung Hậu trong buổi trò chuyện triết học lần này có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hình thành một không gian triết học cho miền Nam sau 1975.
Bởi nếu ai đã từng học lớp triết học (ngoại lệ) buổi tối trên giảng đường trường Khoa học XH và Nhân văn của những năm 2011-2013, sẽ biết rõ câu chuyện chính tinh thần triết học của thầy Bùi Văn Nam Sơn đã truyền lại cho những học trò của ông như thế nào và lời dặn dò của ông với hai người học trò đầu tiên của ông đã lên đường sang Đức du học môn triết học, để rồi 10 năm sau, 2023, Trương Trọng Hiếu- tiến sĩ triết học và NCS Nguyễn Trung Hậu từ Đức trở về trong vòng tay của thầy Sơn và đồng môn với nụ cười đầy tự hào về một thế hệ những “triết gia” đầu tiên của thế hệ 8X được hình thành trong những thập niên đầu thế kỷ XXI.
Quay trở lại với sự kiện diễn ra vào lúc 9g sáng thứ Bảy, ngày 30/08/2025 tại Chương trình Cà phê thứ Bảy (Phan Kế Bính- Sài Gòn), thầy Bùi Văn Nam Sơn sẽ chủ trì buổi nói chuyện tương tác của tiến sĩ triết học Trương Trọng Hiếu và NCS Nguyễn Trung Hậu về đề tài “Hữu thể học xã hội và một vài vấn đề đương đại”.
Để các bạn có thể tiện theo dõi về đề tài này, tôi xin giới thiệu dưới đây tóm lược về hành trình ra đời và phát triển của triết học Hữu thể học xã hội, từ đó, các bạn sẽ dễ dàng nắm bắt phần nội dung chính: “Trong phần đầu, NCS Nguyễn Trung Hậu sẽ giới thiệu môn hữu thể học xã hội thông qua một số vấn đề thời sự của nó. Trong phần sau, TS Trương Trọng Hiếu sẽ phản hồi bằng cách xem xét môn hữu thể học xã hội từ viễn tượng của lịch sử triết học”.
NCS Nguyễn Trung Hậu sẽ đặt vấn đề về “sự khác nhau giữa tiền giấy, vàng và tiền số – xét về mặt triết học – là gì? Nếu doanh nghiệp gây hậu quả môi trường thì ai là người chịu trách nhiệm? Người đứng đầu hay chính doanh nghiệp với tư cách pháp nhân? Nhưng làm thế nào để có thể quy trách nhiệm cho một tập thể?
Đây là một vài trong số rất nhiều những câu hỏi mà môn hữu thể học xã hội (social ontology) – một phân môn của triết học – quan tâm giải đáp. Một mặt, môn này đả động đến những vấn đề thiết thân nhất của đời sống xã hội; chẳng hạn vấn đề định chế, giới, chủng tộc … Mặt khác, các triết gia vẫn còn tranh cãi nhau về những vấn đề căn cơ nhất của nó; chẳng hạn một hiện tượng xã hội phải thoả mãn những đặc tính gì thì mới gọi là một hiện tượng xã hội”.
VÀI NÉT VỀ CÁC DIỄN GIẢ
Nguyễn Trung Hậu, tốt nghiệp ĐH Kinh tế – Luật TPHCM, sau đó qua Đức học cử nhân và thạc sĩ ở ĐH Leipzig, CHLB Đức. Đồng dịch giả cuốn “Đặt cơ sở cho siêu hình học về đức lý”. Hiện đang làm nghiên cứu tiến sĩ ở ĐH Leipzig.
TS. Trương Trọng Hiếu: MA Triết học tại Ruhr University Bochum, PhD Triết học tại University of Wuppertal. Hiện là giảng viên Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
***
Đọc thêm:
CÁC TIỀN ĐỀ NỀN TẢNG CHO HỮU THỂ HỌC XÃ HỘI- Social Ontology
Người đặt tiền đề sớm nhất: Aristotle với ý niệm zoon politikon.
Người mở ra chiều sâu triết học xã hội: Hegel và Marx (bản thể xã hội như điều kiện con người).
Người sáng lập hiện đại: John Searle với The Construction of Social Reality (1995), đưa “Social Ontology” thành lĩnh vực độc lập.
Plato (427–347 TCN): Trong Cộng hòa (Politeia), ông đã coi các cấu trúc xã hội (nhà nước, công lý) như những “hữu thể” mang bản chất riêng biệt vượt lên cá nhân.
Aristotle (384–322 TCN): Là người có ảnh hưởng lớn nhất. Trong Politics, ông xem con người là zoon politikon (sinh vật chính trị/xã hội), tức xã hội là điều kiện bản thể để con người hiện hữu. Đây là một nền tảng rất gần với social ontology.
Hegel (1770–1831): Với khái niệm Geist (Tinh thần), đặc biệt trong Phenomenology of Spirit và Philosophy of Right, ông khẳng định rằng bản thể con người chỉ hiện thực qua đời sống xã hội, các thể chế, pháp luật, và “tinh thần khách quan”. Đây là bước ngoặt cho tiền đề hữu thể học xã hội.
Marx (1818–1883): Triển khai quan điểm của Hegel nhưng cụ thể hóa bằng thực tiễn xã hội – “bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”. Đây là một mệnh đề có tính hữu thể học xã hội rõ nét.
Đến thế kỷ hai mươi:
Edmund Husserl (1859–1938): Trong Intersubjectivity và Crisis of European Sciences, ông nhấn mạnh tính liên-chủ thể (intersubjectivity) như điều kiện của thế giới sống.
Max Scheler (1874–1928): Đưa ra phân tích “cộng đồng” (Gemeinschaft) và “xã hội” (Gesellschaft) trong phạm vi hiện tượng học, rất gần với social ontology.
Alfred Schutz (1899–1959): Tiếp nối Husserl, phát triển hiện tượng học xã hội, coi cấu trúc xã hội là sản phẩm của ý nghĩa liên-chủ thể.
Hiện đại – hình thành “Social Ontology” như chuyên ngành
John Searle (1932–2019) với tác phẩm The Construction of Social Reality (1995)đã trở thành cột mốc quan trọng. Ông cho rằng các “kiện tính xã hội” (social facts) được tạo ra nhờ “collective intentionality” (ý hướng tập thể) và “status functions” (chức năng quy ước). Đây là sự khai sinh chính danh cho “social ontology” như một lĩnh vực nghiên cứu độc lập.
• Margaret Gilbert: Với lý thuyết plural subject, nhấn mạnh sự ràng buộc tập thể như một thực tại xã hội đặc thù.
• Tony Lawson: Trong kinh tế học, phát triển “social ontology” để phân tích cấu trúc xã hội – nền tảng cho critical realism.
___
1/ Điểm mới mà Hữu thể học xã hội đưa ra trong thế kỷ 21
• Chuyển từ bản thể “cố định” sang bản thể “kiến tạo”
→ Không coi xã hội là “thực thể bất biến” nữa, mà là cái được kiến tạo liên tục qua tương tác, quy tắc, công nghệ.
• Nhấn mạnh đến tính phi-vật chất (immaterial)
→ Các thực tại xã hội mới không nhất thiết cần nền tảng vật chất (ví dụ: tiền điện tử, hợp đồng thông minh, mạng xã hội).
• Mở rộng khái niệm “cái xã hội” ra ngoài vật lý – vào không gian số
→ Hữu thể học xã hội ngày nay đặt câu hỏi: Liệu một cộng đồng online có cùng bản chất xã hội như cộng đồng offline?
2/ Những vấn đề xã hội mới trong thời đại Internet
* Thực tại ảo & định chế số
• Tiền mã hóa (Bitcoin, Ethereum) → Là “status function” thuần túy, không cần chính phủ bảo chứng.
• Mạng xã hội → Sự kiện xã hội, giá trị, uy tín, “like/share” trở thành “facts xã hội” ảnh hưởng thật sự đến đời sống.
* Danh tính & tính liên-chủ thể mới
• Digital identity (căn cước số, avatar, tài khoản) → trở thành một “thực thể xã hội” song song với căn cước vật lý.
• AI, avatar ảo: liệu chúng có thể trở thành chủ thể xã hội hay chỉ là công cụ?
* Quy tắc kiến tạo & quyền lực
• Quyền lực không chỉ ở nhà nước, mà ở algorithms (thuật toán).
• Facebook, Google, TikTok… định hình “facts xã hội” bằng các constitutive rules vô hình (nội dung nào được lan tỏa, cái gì bị ẩn).
3/ Giá trị nhân bản cần quan tâm
• Tự do và tự chủ cá nhân: Khi xã hội ảo có thể thao túng hành vi, đâu là giới hạn của “ý hướng tập thể”?
• Niềm tin và sự thật: Tin giả (fake news) và thao túng thông tin làm lung lay nền tảng của social ontology – vì “facts xã hội” dựa vào sự công nhận chung.
• Tính cộng đồng và cô đơn hiện đại: Internet vừa kết nối, vừa cô lập → đặt lại vấn đề “cái xã hội” có còn là không gian nuôi dưỡng nhân tính hay không.
• Định nghĩa mới về nhân loại: Khi ranh giới giữa người – máy – AI mờ đi, đâu là nền tảng hữu thể học của “cái xã hội” loài người?
Từ đây, cho thấy những mối quan tâm mới mà Hữu thể học xã hội thế kỷ 21 đem lại chính là:
1. Mở rộng phạm vi xã hội từ không gian vật lý sang không gian số.
2. Đặt lại nền tảng bản thể học của các thực thể xã hội mới (tiền mã hóa, mạng xã hội, avatar, AI).
3. Đặt câu hỏi nhân bản: làm thế nào để duy trì tự do, nhân phẩm, và sự thật trong khi xã hội ngày càng được kiến tạo bởi công nghệ và thuật toán?
Phần này tôi biên soạn với sự trợ giúp của AI.
Chúc các bạn có một thứ Bảy đầy ý nghĩa và tràn ngập năng lượng tươi mới từ những suy tưởng triết học.
Ngân Hà trân trọng giới thiệu.
